Phân biệt giải thể doanh nghiệp và các hình thức chấm dứt hoạt động doanh nghiệp khác

15 phút đọc

Phân biệt giải thể doanh nghiệp với các hình thức chấm dứt hoạt động doanh nghiệp khác.

1. Giải thể doanh nghiệp với phá sản doanh nghiệp.

Giải thể doanh nghiệp và phá sản doanh nghiệp đều là thủ tục chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp. Tuy nhiên, giữa giải thể và phá sản về cơ bản là khác nhau, điều này được lý giải qua một số yếu tố sau:

(1) Về lý do giải thể doanh nghiệp và phá sản doanh nghiệp:

Lý do giải thể doanh nghiệp rộng hơn rất nhiều so với phá sản doanh nghiệp. Giải thể doanh nghiệp xuất phát từ nhiều lý do như từ ý chí của chủ sở hữu doanh nghiệp khi mục đích của doanh nghiệp không đạt được hoặc do hoạt động của doanh nghiệp không đạt hiệu quả, việc chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp sẽ có lợi hơn. Trong khi đó, phá sản doanh nghiệp chỉ có 1 lý do duy nhất là tình trạng doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và có đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

(2) Cơ quan có thẩm quyền quyết định giải thể doanh nghiệp và phá sản doanh nghiệp:

Đối với giải thể doanh nghiệp có thể theo quyết định của chủ sở hữu doanh nghiệp đối với những trường hợp giải thể tự nguyện hoặc do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập doanh nghiệp quyết định đối với trường hợp giải thể bắt buộc. Trong khi đối với phá sản doanh nghiệp chỉ có Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền quyết định tuyên bố phá sản và tiến hành các thủ tục phá sản.

(3) Tính chất của thủ tục giải thể và thủ tục phá sản doanh nghiệp:

Giải thể doanh nghiệp là thủ tục mang tính hành chính, chủ yếu do cơ quan đăng ký kinh doanh thực hiện theo trình tự, thủ tục được quy định tại Luật Doanh nghiệp 2020. Đối với phá sản doanh nghiệp là thủ tục tư pháp, do Tòa án thực hiện theo quy định của Luật Phá sản năm 2014.

(4) Điều kiện giải thể doanh nghiệp và phá sản doanh nghiệp:

Đối với giải thể doanh nghiệp: Doanh nghiệp chỉ được giải thể khi đảm bảo thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác và doanh nghiệp không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc cơ quan trọng tài. Trong khi đó, đối với phá sản, doanh nghiệp phải đảm bảo thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác không là điều kiện bắt buộc. Theo quy định của Luật Phá sản 2014, doanh nghiệp bị áp dụng thủ tục phá sản mất khả năng thanh toán nợ; các chủ nợ sẽ được thanh toán các khoản nợ theo thứ tự luật định trên cơ sở số tài sản còn lại của doanh nghiệp (từ doanh nghiệp tư nhân và thành viên hợp danh công ty hợp danh). Trường hợp, giá trị tài sản còn lại không thanh toán hết các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản thì các chủ nợ sẽ được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ dựa trên thứ tự ưu tiên. Như vậy, doanh nghiệp phá sản có thể thanh toán hết hoặc không thanh toán các khoản nợ cho các chủ nợ.

(5) Hậu quả pháp lý của việc áp dụng thủ tục giải thể doanh nghiệp và phá sản doanh nghiệp:

Đối với giải thể doanh nghiệp, sau khi hoàn thành thủ tục giải thể, bị xóa tên trong sổ đăng ký doanh nghiệp thì về mặt pháp lý doanh nghiệp không còn tồn tại. Đối với thủ tục phá sản doanh nghiệp không phải luôn luôn là chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp, không phải trường hợp nào sau khi mở thủ tục phá sản cũng dẫn đến doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản, phải chấm dứt hoạt động kinh doanh mà còn có thể có cơ hội phục hồi hoạt động kinh doanh do Tòa án quyết định. Nếu thủ tục phục hồi kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp vẫn tiếp tục tồn tại. Như vậy, sau khi áp dụng thủ tục phá sản, về mặt pháp lý doanh nghiệp vẫn có thể tồn tại nếu phục hồi được hoạt động kinh doanh.

(6) Quyền của chủ doanh nghiệp sau khi giải thể hoặc phá sản:

Đối với doanh nghiệp bị giải thể, chủ doanh nghiệp có quyền thành lập và quản lý, điều hành doanh nghiệp khác. Nhà nước không đặt ra bất kỳ một sự hạn chế nào đối với quyền tự do kinh doanh của chủ doanh nghiệp bị giải thể, bởi lẽ, giải thể doanh nghiệp chủ yếu xuất phát từ ý chí của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối với chủ doanh nghiệp bị phá sản không được phép thành lập doanh nghiệp trong một thời gian nhất định kể từ ngày tuyên bố phá sản. Điều này xuất phát từ nguyên nhân của việc áp dụng thủ tục phá sản là doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, thua lỗ dẫn đến tình trạng không có khả năng thanh toán nợ.

Để dẫn đến tình trạng này là do quản lý điều hành doanh nghiệp yếu kém, sai lầm. Trên cơ sở đó, chủ doanh nghiệp bị phá sản sẽ bị hạn chế quyền thành lập doanh nghiệp. Tuy nhiên, chủ doanh nghiệp sẽ không bị hạn chế quyền trong trường hợp phá sản do những sự kiện bất khả kháng, ngoài sự kiểm soát của doanh nghiệp, như: Hỏa hoạn, chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh, bạo loạn, đình công, khủng hoảng kinh tế, chính sách pháp luật của Nhà nước thay đổi,… dẫn đến doanh nghiệp bị khủng hoảng, thiệt hại nặng nề và không có khả năng thanh toán mọi khoản nợ và buộc phải tự yêu cầu Tòa án tiến hành thủ tục phá sản.

2. Giải thể doanh nghiệp với các trường hợp tổ chức lại doanh nghiệp

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp , tổ chức lại doanh nghiệp là việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập hoặc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp. Tổ chức lại doanh nghiệp khác với giải thể doanh nghiệp qua những điểm sau:

(1) Cơ quan có thẩm quyền quyết định giải thể doanh nghiệp và tổ chức lại doanh nghiệp. Đối với giải thể doanh nghiệp có thể theo quyết định của chủ sở hữu doanh nghiệp đối với những trường hợp giải thể tự nguyện hoặc do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập doanh nghiệp quyết định đối với trường hợp giải thể bắt buộc. Đối với hoạt động tổ chức lại doanh nghiệp thì chủ thể quyết định chính là chủ sở hữu doanh nghiệp với mục đích thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động kinh doanh.

(2) Về thời điểm hoàn thành thủ tục, đối với giải thể doanh nghiệp, thủ tục giải thể được xem là hoàn thành khi cơ quan đăng ký kinh doanh xóa tên doanh nghiệp trong sổ đăng ký doanh nghiệp. Khi đó, các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp sẽ chấm dứt. Đối với tổ chức lại doanh nghiệp, có thể doanh nghiệp sẽ bị xóa tên trong sổ đăng ký doanh nghiệp như khi chuyển đổi, hợp nhất, chia doanh nghiệp nhưng không thể xem đây là thời điểm hoàn thành thủ tục. Thủ tục chỉ được hoàn thành khi doanh nghiệp mới được thành lập (được ghi nhận trong sổ đăng ký doanh nghiệp).

(3) Hậu quả pháp lý đối với giải thể doanh nghiệp, sau khi hoàn thành thủ tục thì doanh nghiệp chấm dứt sự tồn tại, các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp không được kế thừa. Nhưng đối với việc tổ chức lại doanh nghiệp, doanh nghiệp được tổ chức lại không còn tồn tại về mặt pháp lý nhưng về bản chất doanh nghiệp đó vẫn tồn tại trong một hình thức mới; các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp đó vẫn được kế thừa trong doanh nghiệp mới được hình thành.

3. Giải thể doanh nghiệp với tạm ngừng kinh doanh.

Về bản chất pháp lý, giải thể doanh nghiệp được hiểu là quá trình dẫn đến sự chấm dứt tồn tại của doanh nghiệp sau khi đảm bảo thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp đó. Còn tạm ngừng kinh doanh được hiểu là trường hợp doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động sản xuất, kinh doanh trong một thời gian nhất định. Sau khoảng thời gian đó, doanh nghiệp trở lại hoạt động bình thường.

Về chủ thể có thẩm quyền quyết định giải thể doanh nghiệp và tạm ngừng kinh doanh. Giải thể doanh nghiệp có thể là quyền của doanh nghiệp nếu giải thể tự nguyện nhưng nó cũng là giải thể bắt buộc nếu doanh nghiệp đó vi phạm pháp luật và bị cơ quan đăng ký kinh doanh thu hồi giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp. Còn đối với tạm ngừng kinh doanh thì hoàn toàn do quyền của doanh nghiệp trên cơ sở kết quả và mục đích kinh doanh.

Về hậu quả pháp lý của giải thể doanh nghiệp và tạm ngừng kinh doanh. Giải thể doanh nghiệp bao giờ cũng dẫn đến hậu quả pháp lý là chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp, đóng mã số thuế của doanh nghiệp. Còn tạm ngừng kinh doanh không làm chấm dứt hoàn toàn hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp chỉ tạm ngừng kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định, hết thời hạn đó, doanh nghiệp tiếp tục hoạt động bình thường. Trong thời hạn ngừng hoạt động, doanh nghiệp phải nộp đủ số thuế còn nợ, tiếp tục thanh toán các khoản nợ, hoàn thành việc thực hiện hợp đồng đã ký với khách hàng và người lao động, trừ trường hợp có quy định khác.

Ngoài ra, đối với giải thể doanh nghiệp, doanh nghiệp phải trả các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính. Đối với tạm ngừng kinh doanh, doanh nghiệp có thể bớt đi nỗi lo về tiền lương cho người lao động, thuế và các khoản chi khác. Nhờ đó, doanh nghiệp tập trung được nhân lực và vật lực để giải quyết các khó khăn còn tồn đọng; tìm cách huy động vốn từ các nhà đầu tư để tái cơ cấu lại doanh nghiệp hoặc cũng có thể chưa hoạt động để chờ đợi cơ hội mới tốt hơn.

QUY TRÌNH GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP TẠI THIÊN THANH

  1. Tư vấn các vấn đề pháp lý có liên quan đến thủ tục quyết toán thuế, giải thể công ty tại Sở KH&ĐT:
  • Điều kiện, lý do giải thể công ty;
  • Chi phí, thời gian giải thể doanh nghiệp;
  • Xử lý các vấn đề liên quan đến lao động, các khoản nợ thuế, nợ khách hàng, đối tác.
  1. Kiểm tra, rà soát  hồ sơ quyết toán thuế.
  2. Soạn hồ sơ giải thể và trình doanh nghiệp ký.
  3. Nộp hồ sơ giải thể, theo dõi hồ sơ và thay mặt Công ty làm việc với cơ quan thuế đối chiếu tình hình nợ thuế, hướng dẫn Công ty hoàn thiện các nghĩa vụ thuế còn thiếu.
  4. Nhận biên bản làm việc xác nhận Công ty đã hoàn thành các nghĩa vụ về thuế.
  5. Nhận kết quả khóa mã số thuế từ cơ quan thuế.
  6. Nộp hồ sơ giải thể tại Sở KH&ĐT.
  7. Theo dõi tiến trình hồ sơ thủ tục giải thể doanh nghiệp.
  8. Nhận kết quả thu hồi GPKD tại Sở KH&ĐT.
  9. Làm thủ tục trả con dấu và Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu cho cơ quan công an đối với doanh nghiệp sử dụng con dấu do cơ quan công an cấp.
  10. Công bố nội dung giải thể doanh nghiệp trên Cổng thông tin Quốc gia.
  11. Bàn giao kết quả giải thể công ty tận nơi.

 

Bài viết liên quan